Bài dự thi: Giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong hoàn thiện chính sách tiền lương tại doanh nghiệp nhà nước trong kỷ nguyên số
Trong tiến trình đổi mới đất nước, chính sách tiền lương luôn là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp đến đời sống người lao động, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và sự ổn định xã hội. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần mà còn là vấn đề chính trị - xã hội có ý nghĩa chiến lược trong củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, người lao động đối với Đảng và Nhà nước.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số mạnh mẽ và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, các cơ chế liên quan đến tiền lương đang đứng trước nhiều yêu cầu đổi mới. Đi cùng với đó, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng những khó khăn, bất cập trong chính sách tiền lương, thu nhập, việc làm để xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kích động tâm lý so bì, bất mãn, làm suy giảm niềm tin của người lao động vào cơ chế quản lý và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Bởi vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực cải cách các cơ chế, chính sách về tiền lương cần được nhìn nhận không chỉ là nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái mà còn là quá trình chủ động hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu lực quản trị và truyền thông hiệu quả để củng cố đồng thuận xã hội.
Đảng ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định lao động là nguồn gốc của giá trị, là nhân tố quyết định tạo ra của cải vật chất và tiến bộ xã hội. Vì vậy, phân phối tiền lương, thu nhập, đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội và nâng cao đời sống nhân dân là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp đã tạo bước chuyển mạnh mẽ về tư duy, chuyển từ cơ chế bình quân sang trả lương theo vị trí việc làm, chức danh, chức vụ lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đây là chủ trương lớn, thể hiện quyết tâm của Đảng trong xây dựng hệ thống chính sách tiền lương minh bạch, công bằng, tạo động lực phát triển.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, tiền lương không đơn thuần là khoản chi phí mà còn là công cụ quản trị nguồn nhân lực, thúc đẩy năng suất lao động, giữ chân nhân lực chất lượng cao và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai, các chính sách về tiền lương vẫn tồn tại những khó khăn nhất định khi doanh nghiệp phải cân bằng giữa mục tiêu bảo toàn vốn nhà nước, lợi nhuận và nâng cao thu nhập người lao động còn nhiều áp lực.
Chính từ những tồn tại này, một số đối tượng đã lợi dụng để lan truyền các quan điểm sai lệch như: doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả vì cơ chế tiền lương “bao cấp”; cải cách tiền lương chỉ mang tính hình thức; khu vực nhà nước không thể cạnh tranh trong thu hút nhân tài; hoặc cực đoan hơn là phủ nhận vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế.
Những luận điệu trên là phiến diện, cố tình bỏ qua bản chất và đặc thù của doanh nghiệp nhà nước. Thực tế, doanh nghiệp nhà nước không chỉ thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh mà còn gánh vác trách nhiệm chính trị, xã hội, an sinh và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Nhiều doanh nghiệp phải duy trì mạng lưới rộng khắp, cung ứng dịch vụ công ích, hoạt động tại địa bàn khó khăn, vùng sâu vùng xa mà khu vực tư nhân không muốn hoặc không đủ khả năng đầu tư.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng chính sách lao động, tiền lương phù hợp không thể chỉ áp dụng máy móc theo cơ chế thị trường thuần túy mà phải đặt trong tổng thể mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực lao động, tiền lương trong giai đoạn mới, cần tập trung một số giải pháp trọng tâm.
Trước hết, tiếp tục hoàn thiện thể chế tiền lương theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Cơ chế tiền lương cần được thiết kế theo hướng trả lương theo vị trí việc làm, năng lực, kết quả công việc; gắn tiền lương với năng suất lao động, lợi nhuận và hiệu quả sử dụng vốn của Nhà nước.
Thứ hai, đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản trị quỹ tiền lương tại doanh nghiệp nhà nước. Cần chuyển mạnh từ cơ chế kiểm soát cứng sang cơ chế khoán gắn với hiệu quả, cho phép doanh nghiệp chủ động phân phối thu nhập trên cơ sở hoàn thành mục tiêu sản xuất kinh doanh, lợi nhuận và năng suất lao động.
Thứ ba, xây dựng cơ chế thu hút, giữ chân nhân tài trong doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt đối với các lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyển đổi số, logistics, kinh doanh số và quản trị dữ liệu. Trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực gay gắt, nếu không có cơ chế tiền lương đủ sức cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước sẽ khó thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, truyền thông chính sách lao động, tiền lương. Mọi thay đổi về cơ chế cần được giải thích rõ ràng, minh bạch, giúp người lao động hiểu được cơ sở xây dựng chính sách, quyền lợi, nghĩa vụ và lộ trình thực hiện. Các doanh nghiệp cần tận dụng nền tảng số như cổng thông tin nội bộ, ứng dụng quản trị nhân sự, mạng xã hội nội bộ, infographic, podcast, video ngắn để truyền tải chính sách theo ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu.
Thứ năm, chủ động đấu tranh phản bác thông tin sai lệch trên không gian mạng. Cần xây dựng đội ngũ truyền thông nội bộ, cộng tác viên dư luận xã hội, cán bộ nhân sự và công đoàn có đủ hiểu biết chính sách để kịp thời định hướng dư luận, giải đáp thắc mắc và phản hồi các thông tin xuyên tạc.
Song song với đó, cần gắn bảo vệ nền tảng tư tưởng với thực hiện Chiến lược công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số. Việc số hóa dữ; minh bạch hóa cơ chế phân phối thu nhập sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và hạn chế thông tin sai lệch.
Trong kỷ nguyên mới, khi yêu cầu phát triển ngày càng cao, các chính sách về tiền lương, thu nhập cho người lao động càng cần đổi mới mạnh mẽ, thực chất và hiệu quả. Một chính sách tiền lương đúng đắn, công bằng, minh bạch và tạo động lực chính là minh chứng rõ nét cho tính ưu việt của chế độ, củng cố niềm tin của người lao động vào Đảng, Nhà nước và con đường phát triển đất nước.
- Tác giả: Dương Thị Tuyết
- Chức vụ, đơn vị công tác: Trưởng phòng Chính sách Nhân sự, Ban Tổ chức nhân sự, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam.
- Email: tuyetdt@vnpost.vn