Thực trạng ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ của Tổng công ty

 

Ứng dụng CNTT trong sản xuất giúp khai thác thông tin nhanh chóng, chính xác

 

Mặc dù cơ sở vật chất nói chung còn thiếu thốn, quy trình sản xuất còn nhiều bất cập, Tổng công ty đã cố gắng nghiên cứu, đầu tư và áp dụng các công nghệ mới để nâng cao chất lượng dịch vụ, cải tiến và tăng tốc quá trình khai thác bưu gửi, cũng như tự động hoá và bảo đảm an toàn cho dịch vụ chuyển tiền trong nước và quốc tế. Đồng thời, là doanh nghiệp đầu ngành, Tổng công ty luôn ý thức được tác động trực tiếp của cuộc cách mạng số và những tiến bộ công nghệ đối với các sản phẩm và dịch vụ của mình.

 

Trong quá trình xây dựng và phát triển, việc ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) trong Tổng công ty được thể hiện ở các nội dung sau:

 

a. Về Công nghệ Thông tin (CNTT):

 

- Hạ tầng kết nối: Toàn bộ mạng giao dịch cấp 1, 2, 3 và mạng bưu cục khai thác  được online hóa và kết nối về Trung tâm Dữ liệu bưu chính. Tuy nhiên, Tổng Công ty chưa có một lõi (Core) đủ mạnh để  tùy biến đáp ứng tất cả các yêu cầu nghiệp vụ như các hệ thống ứng dụng cộng lại, dẫn đến tài nguyên hạ tầng bị phân mảnh, nguồn lực triển khai không thể tập trung và các kết nối chưa được tích hợp đầy đủ.

 

- Tổ chức triển khai phát triển  ứng dụng CNTT theo hướng tập trung hóa để hướng tới mục tiêu Tổng Công ty có một CSDL đầy đủ thống nhất, từ đó phát triển các công cụ điều hành một cách đồng bộ và kịp thời, giúp lãnh đạo và bộ máy quản lý các cấp có thể theo dõi, phân tích trực quan tình hình kinh doanh, khai thác, và vận hành tại mọi khâu trong dây chuyền sản xuất, giúp bộ máy quản lý các cấp có được thông tin điều hành kịp thời và chính xác hỗ trợ đắc lực cho quá trình ra quyết định. Tính đến thời điểm hiện nay: Ứng dụng CNTT đối với nhóm các dịch vụ tài chính bưu chính đã cơ bản đáp ứng được mục tiêu quản lý tập trung, hỗ trợ tốt cho việc quản lý, cung cấp dịch vụ, quản trị luồng tiền trên toàn hệ thống. Đối với các dịch vụ bưu chính chuyển phát (BCCP) đã dịch chuyển từ mô hình phân tán sang mô hình CSDL tập trung, bước đầu đã  hỗ trợ tốt cho việc phân chia doanh thu đối với các dịch vụ này. Khi triển khai phần mềm BCCP sẽ thống nhất được toàn bộ nhóm dịch vụ này vào một công cụ quản trị chung.

 

- Phát triển các công cụ hỗ trợ theo dõi định vị các sản phẩm BCCP có số  hiệu trên cổng thông tin điện tử của Tổng Công ty: Phục vụ khách hàng trong quá trình định vị bưu gửi, Giảm yêu cầu điều tra khiếu nại đồng công tác giải quyết khiếu nại được nhanh hơn, nâng cao hình ảnh và uy tín của Bưu điện Việt Nam.

 

- Công cụ quản trị hệ thống mã bưu chính, hệ thống bưu cục và các  điểm cung cấp dịch vụ của Tổng Công ty: Áp dụng từ 2003 để quản lý bộ mã bưu chính (postcode) 6 số, liên quan đến gần 14.000 điểm dịch vụ, 155.000 nhóm địa chỉ, 203.000 khách hàng; Quản lý thông tin chi tiết của toàn bộ hệ thống bưu cục, và điểm phục vụ trên toàn mạng.

 

- Các hệ thống hỗ trợ công tác quản trị đối với khối cơ quan Tổng Công ty như kế toán, quản trị luồng công việc, nhân sự…

 

Hầu hết các hệ thống ứng dụng nêu trên là sản phẩm của sự hợp tác hoặc tự nghiên cứu xây dựng từ nội tại của Tổng công ty với mục tiêu đáp ứng ngay, trước mắt các nhu cầu thực tế phát sinh của sản xuất kinh doanh, chứ chưa phải là sản phẩm đúc kết từ những kinh nghiệm của tổ chức/cá nhân có chuyên môn CNTT sâu trong lĩnh vực bưu chính.

 

Hiện tại, CNTT chỉ mới được xem là công cụ lao động, chưa thực sự được nhận thức là phương tiện quan trọng của hoạt động thương mại. Do đó các chỉ tiêu đầu tư cho lĩnh vực này chưa được đặt ra thành một điều kiện tiên quyết trong quá trình phát triển của Tổng công ty.

 

Về xây dựng đội ngũ cán bộ: Trình độ sử dụng và phát triển các hệ thống CNTT không nhất quán, một lớp các đơn vị, phòng ban đã có CNTT phát triển, và một lớp khác gồm nhiều đơn vị vẫn chưa được tiếp cận với tin học hoá. Việc đào tạo đội ngũ chuyên gia CNTT chuyên nghiệp chưa được chú trọng.

 

b. Về các ứng dụng KHCN khác trong điều hành và quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh:

 

- Ứng dụng công nghệ GPS trong quản lý phương tiện vận chuyển: Đầu tư hệ thống trang thiết bị giám sát phương tiện vận tải ứng dụng công nghệ GPS để quản lý toàn bộ các xe thuộc tuyến đường thư nội tỉnh và liên tỉnh cho một số đơn vị lớn có trung tâm khai thác chia chọn, dự kiến trong giai đoạn sau sẽ triển khai trang bị cho tất cả các xe thuộc các tuyến đường thư cấp I, II của các bưu điện tỉnh, thành phố.

 

- Ứng dụng công nghệ RFID trong quản lý chất lượng đối với bưu phẩm quốc tế: Năm 2010, khi UPU triển khai chính thức trên diện rộng hệ thống kiểm tra chất lượng sử dụng RFID có tên gọi GMS (Global Monitoring System – hệ thống giám sát toàn cầu), Tổng công ty đã đăng ký tham gia. Hiện đã và đang được triển khai ứng dụng công nghệ này phục vụ công tác quản lý chất lượng dịch vụ bưu phẩm quốc tế, và tại các trung tâm chia chọn trong nước.

 

- Nghiên cứu ứng dụng mã vạch trong quản lý bưu gửi, chuyến thư: Đã áp dụng mã vạch cho túi thư và bảng kê túi gói giao nhận. Giúp khai thác thông tin được nhanh chóng và chính xác.

 

c. Trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ:

 

Hiện Tổng công ty đã ban hành danh mục và quy cách quy định về vật tư trang thiết bị sử dụng trong khai thác chia chọn của Tổng công ty. Danh mục về vật tư trang thiết bị gồm: túi thư; giá treo túi thư; vật tư và dụng cụ niêm phong; dấu; Bàn chia, ô chia và thùng thư; khay; xe đẩy; băng tải; pallet; thiết bị hỗ trợ khai thác hàng nặng; phong bì. Tuy nhiên, danh mục vật tư trang thiết bị này còn thiếu cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra quy định về quy cách nhằm thống nhất việc sử dụng vật tư trang thiết bị phục vụ chấp nhận, khai thác, chia chọn và phát trong toàn Tổng công ty như: hộp đựng bưu kiện, gói nhỏ; các loại ấn phẩm; mã vạch…

 

Việc ứng dụng, đầu tư thiết bị công nghệ chủ yếu cho 3 trung tâm chia chọn và các trung tâm Datapost, tập trung vào các sản phẩm và dây chuyền sản xuất công nghiệp của các hãng uy tín nước ngoài. Có thể  kể ra đây một số hệ thống như máy chia thư của Solystic (Pháp), Böwe Bell+Howell (Đức), máy chia bưu kiện của Beumer (Đức), các hệ thống máy lồng gấp phong bì của Böwe Systec (Đức), Pitney Bowes (Mỹ), các hệ thống máy in công nghiệp tốc độ cao của Xerox (Mỹ), Océ (Đức), IBM (Mỹ). Ngoài ra, quá trình tự động hoá quy mô nhỏ hơn tại các bưu điện tỉnh thành cũng được chú ý, với hàng loạt thiết bị bưu chính được đầu tư và cung cấp để sử dụng tại các bưu cục phục vụ sản xuất, bao gồm: máy in cước thay tem (từ máy chạy cơ đến máy điện tử và máy kỹ thuật số của nhiều hãng như Ascom – Thuỵ Sỹ, Frama – Thuỵ Sỹ, Neopost – Pháp, Pitney Bowes), máy xoá tem (của các hãng Secap, Pitney Bowes, NEC), máy gói buộc bưu phẩm bưu kiện tự động, cân điện tử…

 

Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, tự động hóa trong lĩnh vực bưu chính như đưa máy chia thư, máy chia bưu kiện, băng tải vào phục vụ hoạt động khai thác tại các trung tâm khai thác vận chuyển vùng làm giảm sức lao động cho người lao động, tăng năng suất cho nhận viên khai thác chia chọn. Ngoài ra, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, tự động hóa trong lĩnh vực bưu chính giúp cải thiện chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, Việc ứng dụng công nghệ trong bưu chính tại Vietnam Post hiện nay còn thiếu  đồng bộ, các hệ thống rời rạc và chưa kết nối được với nhau, chưa theo kịp yêu cầu hiện đại hoá để hội nhập quốc tế, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của Tổng công ty.

 

Hiện, cơ cấu nhân sự dành cho lĩnh vực kỹ thuật nói riêng, nghiên cứu khoa học công nghệ nói chung tại Tổng công ty rất mỏng và bị dàn đều ra nhiều lĩnh vực. Tại khối Văn phòng Tổng công ty chỉ có 2 chuyên viên chuyên trách; tại các Bưu điện tỉnh thành, lực lượng cán bộ quản lý về trang thiết bị thường là bộ phận chuyên viên công nghệ thông tin kiêm nhiệm thêm chức năng, vì vậy chưa có chuyên môn về kỹ thuật để xử lý các vấn đề phát sinh. Những sự cố trong quá trình quản lý, vận hành thiết bị do đó thường được giải quyết kiểu sự vụ, còn các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chỉ dừng ở mức nghiên cứu tình hình ứng dụng công nghệ tại Bưu chính các nước. Chưa có một quy trình khoa học, thống nhất để nghiên cứu, lựa chọn công nghệ phù hợp cần đầu tư.

 

d. Công tác nghiên cứu đề tài KHCN.

 

TT

Nội dung

Số lượng các đề tài/nhiệm vụ KHCN đã thực hiện

Cấp

Nhà nước

Cấp

Bộ

 

Cấp
Tập đoàn VNPT

Cấp
Tổng công ty

Cộng

1

2010

 

 

1

 

1

2

2011

 

4

 

 

4

3

2013

 

1

 

2

3

Cộng

 

5

1

2

8